22. Mạn hứng kỳ 2

Nguyen Du

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng,
Giang nam giang bắc nhất nang không
Bách niên cùng tử văn chương lý,
Lục xích phù sinh thiên địa trung
Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh
Nhất đầu bạch phát tàn tây phong
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.

漫興其二

行腳無根任轉蓬, 
江南江北一囊空。 
百年窮死文章裏, 
六尺浮生天地中。 
萬里黃冠將暮景, 
一頭白髮散西風。 
無窮今古傷心處, 
依舊青山夕照紅。

Dịch nghĩa
Mạn hứng bài 2
Chân không bén rễ, mặc cho trôi giạt như ngọn cỏ bồng. 
Một chiếc bị rỗng không, đi hết phía nam sông, lại phía bắc sông. 
Cuộc đời trăm năm, kiết xác với văn chương. 
Tấm thân sáu thước, lênh đênh trong vòng trời đất. 
Đội mũ vàng, đi muôn dặm, cảnh đã xế chiều. 
Mái tóc bạc lốm đốm, gió tây thổi tung. 
Chuyện kim cổ gợi lại bao nhiêu điều thương tâm. 
Dãy núi xanh đằng kia vẫn nhuốm bóng chiều hồng như cũ.

Lênh đênh sóng biển cỏ bồng
Sông nam sông bắc rỗng không túi tiền
Văn chương đói rách triền miên
Tấm thân sáu thước buồn phiền kiếp hoang
Đường chiều vạn dặm mũ vàng
Gío tây đầu bạc thổi tung rối bời
Cảnh này lòng cũ bồi hồi
Núi xanh nắng đỏ một trời buồn tênh

Sóng biển lênh đênh ngọn cỏ bồng
Sông nam sông bắc túi tiền không
Trăm năm chữ nghĩa nghèo xơ xác
Sáu thước xác thân tính dại khôn
Vạn dặm mũ vàng chiều nắng rụi
Một đầu tóc bạc gió bay tung
Cảnh này lòng cũ buồn vô hạn
Rặng núi xanh xưa chiếu nắng hồng

KT

Posted in Mười năm gió bụi (1786-1795), Thanh Hiên thi tập, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

21. Mạn hứng kỳ 1

Nguyen Du

Bách niên thân thế uỷ phong trần,
Lữ thực giang tân hựu hải tân.
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng
Hư danh vị phóng bạch đầu nhân.
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,
Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.
Giao ức gia hương thiên lý ngoại,
Trạch xa đoạn mã quý đông lân.

漫興其一
百年身世委風塵, 
旅食江津又海津。 
高興久無黃閣夢, 
虛名未放白頭人。 
三春積病貧無藥, 
卅載浮生患有身。 
遙憶家鄉千里外, 
澤車段馬愧東鄰。
Dịch nghĩa
Mạn hứng bài 1
Cuộc thế trăm năm phó mặc gió bụi, 
Hết ăn nhờ ở miền sông lại ăn nhờ ở miền biển. 
Đã lâu rồi, lúc cao hứng, không còn ấp ủ giấc mộng gác vàng nữa, 
Nhưng hư danh nào đã buông tha kẻ bạc đầu này. 
Ba  xuân, ốm liên miên, nghèo đến nỗi không có tiền cắt chén thuốc. 
Cuộc phù sinh ba mươi năm, có thân nên sinh mối lo. 
Nhớ quê hương ngoài ngàn dặm, thấy người hàng xóm an nhàn ngồi xe con, 
Xe xấu ngựa hèn kéo đi đủng đỉnh mà thẹn cho mình.

Trăm năm gío bụi cuộc đời
Bờ sông bãi bể vẫn thời xin ăn
Gác vàng giấc mộng đã tan
Hão danh đầu bạc buộc ràng liên miên
Ba xuân bệnh hoạn không tiền
Tuổi đà ba chục muộn phiền vì thân
Quê hương ngàn dặm mơ màng
Thẹn thùng nhìn khách đông lân dập dìu

Gió bụi trăm năm trọn cuộc đời
Hết sông đến bể kiếp ăn rơi
Gác vàng giấc mộng không còn hứng
Đầu bạc hám danh vẫn chửa thôi
Bệnh hoạn ba xuân không thuốc chữa
Phù sinh một kiếp chẳng thân rời
Quê hương ngàn dặm lòng luôn nhớ
Thẹn khách rong xe đủng đỉnh chơi

Trăm năm gió bụi mặc cho đời
Bãi bể bờ sông cũng thế thôi
Cao hứng mộng vàng không có nữa
Háo danh đầu bạc vẫn không rời
Ba xuân lắm bệnh tiền đâu chữa
Một kiếp phù sinh bám chẳng rơi
Xa cách quê hương nghìn dặm nhớ
Thẹn thùng nhìn khách ruổi xe chơi

KT

Posted in Mười năm gió bụi (1786-1795), Thanh Hiên thi tập, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

20. Trệ khách

Nguyen Du

Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung,
Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng?
Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,
Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.
Nhân đoá cùng đồ vô hảo mộng,
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
Phong trần đội lý lưu bì cốt,
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.

滯客
滯客淹留南海中, 
寂寥良夜與誰同。 
歸鴻悲動天河水, 
戍鼓寒侵夏夜風。 
人到窮途無好夢, 
天回苦海促浮蹤。 
風塵隊裡留皮骨, 
客枕蕭蕭兩鬢蓬。
Dịch nghĩa
Người khách bê trễ
Người khách bê trễ nằm bẹp mãi ở vùng biển nam. 
Đêm đẹp vắng lặng, biết trò chuyện cùng ai? 
Con chim hồng bay về, tiếng kêu bi thương vang động nước sông Ngân. 
Tiếng trống cầm canh lạnh cả gió đêm hè. 
Con người ta đến bước đường cùng không thể có mộng đẹp. 
Trời đưa bể khổ lại giục gót phiêu lưu. 
Trong đám người phong trần, mình để lại bộ xương bọc da, 
Nằm nơi đất khách, hai mái tóc bạc loà xoà trên gối.

Biển nam nay lửa mai lần
Đêm thanh vắng bạn một thân một mình
Chim hồng xao động sông ngân
Lạnh tê tiếng trống bẽ bàng gió đưa
Cuộc đời cùng cực mộng sầu
Trời đưa biển khổ mịt mù gót chân
Xương da một kiếp phong trần
Buồn thiu gối khách cội cằn tóc mây

Biển nam nằm bẹp chẳng mong về
Vắng bạn đêm thanh luống tái tê
Vang động sông Ngân hồng rú thảm
Lạnh run tiếng trống gió đêm hè
Cuộc đời cùng cực tiêu mơ đẹp
Biển khổ trời đưa giục gót mê
Một kiếp phong trần trơ xác héo
Buồn thiu gối khách tóc mây bay

Nằm bẹp biển nam chẳng muốn về
Đêm thanh vắng bạn thấy buồn ghê
Chim hồng kêu thảm sông Ngân động
Tiếng trống dồn canh tối lạnh hè
Người đến đường cùng tiêu mộng đẹp
Trời đưa biển khổ thúc chân mê
Phong trần một kiếp trơ da thịt
Gối khách buồn thiu tóc rối mù

KT

Posted in Mười năm gió bụi (1786-1795), Thanh Hiên thi tập, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

19. Bát muộn

 

Thập tải trần ai ám ngọc trừ,
Bách niên thành phủ bán hoang khư.
Yêu ma trùng điểu cao phi tận,
Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư.
Tang tử binh tiền thiên lý lệ,
Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư.
Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ,
Bách chủng u hoài vị nhất sư.

撥悶

十載塵埃暗玉除, 
百年城府半荒墟。 
么麼虫鳥高飛盡, 
滓濊乾坤血戰餘。 
桑梓兵前千里淚, 
親朋燈下數行書。 
魚龍冷落閒秋夜, 
百種幽懷未一攄。

Dịch nghĩa
Xua nỗi buồn
Cái bụi che mờ thềm ngọc mười năm nay. 
Thành phủ xây dựng trăm năm trước, một nửa thành gò hoang, 
Các loài chim nhỏ bé đều bay lên cao hết. 
Sau các cuộc huyết chiến, cõi càn khôn trở nên nhơ nhớp. 
Quê nhà trong cơn binh lửa hẳn đã tiêu điều, 
Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt. 
Bạn bè, bà con chỉ còn lại mấy hàng thư dưới đèn. 
Đêm thu vắng, cá rồng lặng lẽ, trăm mối u hoài chưa dẹp được chút nào!

Mười năm thềm ngọc bụi trần
Trăm năm thành lũy gò hoang nửa rồi
Chim non tung cánh lên trời
Chiến tranh máu đổ dơ đồi bẩn sông
Quê nhà binh lửa khóc ròng
Bạn bè dưới nến vài dòng hỏi thăm
Cá rồng đêm vắng lặng câm
U hoài trăm mối không cầm vấn vương

Thềm ngọc mười năm nhuốm bụi đời
Trăm năm thành lũy cũng tiêu thôi
Chim non tung cánh cao mây núi
Giặc giã máu rơi bẩn đất trời
Bằng hữu nhớ thương dòng nhắn hỏi
Quê nhà binh lửa lệ xa rơi
Đêm thu rồng cá bơi im lặng
Trăm mối sầu thương vẫn quậy hoài

KT

Posted in Mười năm gió bụi (1786-1795), Thanh Hiên thi tập, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

13. Chiêu Thống sang Tầu

Nguyen Du

Bắc Hà như mớ bòng bong
Hết Tông đến Cán lại Bồng lên ngôi
Tây Sơn thừa dịp tức thời
Đánh thôi một trận tả tơi Bắc Hà

Khiến cho chúa Trịnh tiêu ma
Vua Lê hoảng sợ chạy a sang tàu
Ngưỡng xin thượng quốc viện cầu
Mang quân tiếp ứng ngõ hầu diệt tan

Vua tôi một đám điêu tàn
Đèo bòng thê tử khóc tràn như ri
Càn Long mới hỏi chuyện chi
Thống rằng bổn quốc cực kỳ lâm nguy

Số là binh biến bất ngờ
Huệ gom phiến loạn phất cờ xua quân
Đánh quân phủ chúa tan tành
Tiếm xưng Hoàng đế hiệu rằng Quang Trung

Thần đây đầu khấu Cửu trùng
Cúi xin Bệ hạ rộng lòng xét cho
Càn Long rằng Thống chớ lo
Việc này chẳng thể chần chờ so đo

Vội sai nội thị vào kho
Xuất ra muôn lượng để lo việc này
Càn Long nở mặt nở mày
Đúng là trời giúp phen này cho ta

Mình đang tính chuyện can qua
Mà chưa có cớ bỗng ra vụ này
Phen này bọn mán biết tay
Đánh cho bọn chúng chạy dài mới thôi

Hai mươi chín vạn binh trời
Truyền Tôn Sĩ Nghị tức thời hành quân
Lại ra chiếu chỉ Khang An
Hậu cần chuẩn bị quân lương trăm đồn

Chia làm hai mũi tiến công
Một ngay Lưỡng Quảng một vòng Vân Nam
Tiếng là hộ tống vua nam
Phò Lê Chiêu Thống vênh vang lên đường

Binh trời oai dũng hùng cường
Rợp trời cờ xí phố phường ầm vang
Chim đàn chẳng dám bay ngang
Trẻ em lặng tiếng kinh hoàng nín khe

KT

Posted in Cuộc Đời, Nguyên Du - thi thánh Việt Nam, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

Bà Triệu

tem-Ba-Trieu-1

Lừng lẫy Cửu Chân rõ thật mà
Bà Vương Lệ Hải tiếng quần thoa
Vú dài ba thước Ngô kinh hãi
Voi trắng một ngà giặc trốn xa
Thoát kiếp nô tỳ hươi đường kiếm
Đứng đầu khởi nghĩa giữ sơn hà
Xứng tầm Trưng Nữ tài thao lược
Sự nghiệp ngàn năm rạng sử nhà

KT

http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0_Tri%E1%BB%87u

Posted in Danh Nhân, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi

Trọng Thủy nhắn Mỵ Nương

trong thuy-my nuong

Bên tình bên hiếu biết làm sao?
Nặng nợ núi sông phải thế nào
Ở rể Triệu Đà bày chước quỷ
Nằm vùng Trọng Thủy lấy thân trao
Ba năm canh cánh dòm thần nỏ
Tứ quý nhạt phai uổng má đào
Đã trót mang thân đền nợ nước
Thôi đành phụ nghĩa chớ làm sao

KT

Posted in Danh Nhân, Thơ | Tagged | Để lại phản hồi