Tết Đinh Dậu

Năm đến chào xuân khỉ đón gà
Mới vừa hừng sáng gáy hoan ca
Chúc toàn thế giới vang lời nhạc
Mừng khắp nhân gian hưởng thái hòa
Hạnh đào xoài đủ tròn mơ ước
Phúc đáo hương thơm trọn cả nhà
An trú thường hằng trong chánh niệm
Khang trang tâm cảnh nở muôn hoa

KT (24/12/2016)

2017-dinh-dau-4

images (4)

Đăng tải tại Chúc Tết, Thơ | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chương 1: Bản thể của đạo

THIÊN 1: ĐẠO

Chương 1: Bản thể của đạo

1. Đạo bàn được không là đạo thật . Tên gọi được không là tên thật

2. Không là gốc của trời đất. Có là mẹ của vạn vật

3. Thế nên nương không, để thấy thể của nó. Nương có, để thấy dụng của nó.

4. Có và không tuy khác tên nhưng cùng gốc, cả hai đều huyền nhiệm. Hai tầng huyền nhiệm, là cửa vào những kỳ diệu.

第-章

體道

1 道可道,非常道。名可名,非常名。

2 無,名天地之始﹔有,名萬物之母。

3 故常無,欲以觀其妙;常有,欲以觀其徼。

4 此兩者,同出而異名,同謂之玄。玄之又玄,眾妙之門。

Thể đạo

1. Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường danh.

2. Vô, danh thiên địa chi thỉ; hữu, danh vạn vật chi mẫu.

3. Cố thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩ quan kỳ kiếu.

4. Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn

Đăng tải tại Dịch, Đạo Đức Kinh | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đạo Đức Kinh

Lời giới thiệu

Lâm Ngữ Đường trong The Book of Tao mô tả về cuốn Đạo Đức Kinh như sau:

Nếu có một cuốn sách đáng đọc nhất trong toàn bộ nền văn học đông phương – theo ý tôi – thì đó là cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Nó là một trong những cuốn sách sâu sắc nhất của triết học thế giới… sâu sắc và rõ ràng, huyền diệu và thực tế.

Nhà văn hào pháp René Bertrand cũng hết lời ca tụng Lão Tử rằng:

Ông chỉ viết có một cuốn sách rất ngắn gọn là Đạo Đức Kinh. Những dòng chữ trong cuốn sách đó chứa đựng tất cả sự khôn ngoan trên quả đất này.

Người Trung Hoa còn dựng ra cả một cõi trời để tôn vinh tác giả của Đạo Đức Kinh và phong ông làm Thái Thượng Lão Quân để làm giáo chủ thiên giới đó.

Tại sao một quyển sách chứa hơn 5000 chữ lại khiến cả đông cũng như tây hết lòng ca tụng như vậy và Lão Tử là ai mà lại có thể thành tựu được công đức to lớn như vậy chỉ dựa vào một cuốn sách nhỏ bé.

Đầu tiên xin mạn phép bàn về quyến kinh độc đáo này. Theo truyền thuyết thì vào năm 600 TCN Lão Tử bỏ việc đời đi ở ẩn. Đi ngang qua Hàm Cốc ông gặp Doãn Hỷ đang làm quan trấn giữ ải này. Do khâm phục đạo hạnh của Lão Tử nên Doãn Hỷ năn nỉ mời ông ở lại, nói: “Nếu ngài quyết đi ẩn cư xin vì tôi để lại một bộ sách”. Thể theo yêu cầu, Lão Tử đã ở lại Hàm Cốc để trước tác bộ Đạo Đức Kinh (ĐĐK) và nhắn nhủ Doãn Hỷ cứ theo kinh sách mà tu luyện thì sẽ đắc đạo.

Về cấu trúc, ĐĐK gồm cả thảy 81 chương với hơn 5000 chữ chia thành 2 thiên.

· Thiên đầu: gồm 37 chương khởi đầu bằng câu: “Đạo khả đạo phi thường Đạo”. Thiên này bàn về Đạo nên thường gọi là Đạo Kinh

· Thiên sau gồm 44 chương khởi đầu bằng câu: “Thượng đức bất đức thị dĩ hữu đức”. Thiện này luận bàn về Đức nên thường gọi là Đức Kinh

Riêng tác giả của bộ kinh trên là Lão Tử. Ông có ảnh hưởng to lớn trong nền triết học Trung Hoa và được công nhận là khai tổ của Đạo Giáo. Tuy nhiên cuộc đời của Lão Tử được biết rất ít và hầu như ngập tràn trong huyền thoại.

Nơi sinh của ông thường được cho là huyện Khổ nước Sở nay là Lộc Ấp thuộc tỉnh Hà Nam. Thời gian ông ra đời hiện đang nằm trong vòng tranh cãi. Nhiều học giả hiện đại cho rằng ông sống ở thế kỷ 4 TCN vào thời Chiến quốc đồng thời với nhóm Bách gia chư tử. Tuy nhiên, theo truyền thuyết ông sống ở thế kỷ thứ 6 TCN đồng thời với Khổng Tử nhưng sinh trước không Tử.

Tư Mã Thiên trong cuốn Sử Ký nổi tiếng của ông cho biết Lão Tử là người cùng thời với Khổng Tử nhưng lớn tuổi hơn, làm quan quản thủ thư viện cho nhà Chu. Ông có tả lại cuộc gặp gỡ lý thú giửa hai tay đại triết gia này như sau theo lời dịch của Nguyễn Duy Cần:

Khổng Tử đến Châu, hỏi Lễ. Lão Tử nói: “Lời nói của ông là lời nói của những kẻ xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vòn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng, kẻ buôn giỏi khéo giữ của quí như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, sắc thái và dâm chi ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo chô ông biết có bấy nhiêu thôi.” Khổng Tử về bảo đệ tử: “Chim, ta biết nó bay thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy thì ta có lưới bắt nó; cá lội thì ta có dây câu ví nó; chim bay thì ta có bẫy gài nó. Chí như con rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay lượn như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con rồng!”

Đăng tải tại Dịch, Đạo Đức Kinh | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đường luật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường, Trung Quốc. Là một trong những dạng thơ Đường bên cạnh cổ thể (cổ phong), từ, thơ Đường luật đã phát triển mạnh mẽ tại chính quê hương của thể loại và lan tỏa ra nhiều quốc gia lân bang với tư cách thể loại tiêu biểu nhất của thơ Đường nói riêng và tinh hoa thi ca Trung Hoa nói chung. Thơ Đường luật còn được gọi với tên thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể vốn không theo cách luật ấy.

Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều sau: Luật, Niêm, Vần, Đối và Bố cục. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng “thất ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn; biến thể có các dạng: “thất ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), “ngũ ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu năm chữ), “ngũ ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.

Thơ Đường luật tại một số quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vì văn chương chính thống, giáo dục và hệ thống khoa cử thời trung đại đều sử dụng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán trong đó có thơ theo luật Đường.

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt.

Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài từ thời nhà Trần cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, số người trong nước làm luật thi đã bị giảm đi đáng kể.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng thế kỷ thứ 5 chữ Hán truyền từ Trung Hoa tới Nhật. Năm 593 thái tử Shotoku (Thánh Đức) nhiếp chính, đã ban hiến pháp “Thập thất điều”, gửi nhiều phái đoàn sang nhà Đường du học. Năm 710 Nữ hoàng Genmei thiên đô về Nara, đặt tên là Heijo-kyo (Bình Thành Kinh). Năm 794 Thiên hoàng Kammu thiên đô về Heian và lập kinh đô (Heian-kyo, Bình An Kinh). Đây là thời kỳ người Nhật mô phỏng Trung Hoa thời nhà Đường toàn diện từ kiến trúc đô thành (theo mô hình kinh đô Tràng An nhà Đường và thành Lạc Dươngtriều Bắc Ngụy) đến nghi thức, văn hóa, và thời kỳ này kéo dài ít nhất tính đến thời điểm Nhật Bản ngừng phái sứ giả sang giao lưu với đại lục năm 894. Thơ văn chữ Hán trở thành văn học cửa công và đồng nghĩa với sinh hoạt cung đình.

Thành tựu đáng chú ý đầu tiên của người Nhật đối với thể loại thơ Đường luật có thể kể đến Kaifuso (Hoài phong tảo, 751). Thi tập này bao gồm gồm 120 bài thơ chữ Hán, quy tụ các nhà thơ tiêu biểu từ hoàng đế, thành viên của hoàng tộc, quý tộc, tăng lữ cho đến những Hoa kiều nhập quốc tịch Nhật. Sáng tác đa phần được thực hiện từ thế kỷ 7 và 8, và hình thức thơ chủ yếu là thơ ngũ ngôn, tứ tuyệt, bát cú.

Luật[sửa | sửa mã nguồn]

Điều căn bản của luật thơ Đường luật là đối, đó là hai nguyên tắc đối âm và đối ý, nghĩa là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3,… của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3,… của câu dưới cả về âm và ý. Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước nhất tam ngũ bất luật (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật).

Đối âm (Luật bằng trắc)[sửa | sửa mã nguồn]

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằngthanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng. Có người chia thành sáu thanh trắc trong đó dấu sắc (‘) và dấu nặng (.) chia thành mỗi tiếng có hai thanh trắc nhập và trắc khứ.

Nếu chữ thứ hai của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, đồng thời chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường luật mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”.

Ví dụ: xét câu “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà” trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ “tới” (thứ 2) và “xế” (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ “Ngang” là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệtThất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng chữ “B”, vần trắc bằng chứ “T”, những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

1. Luật vần bằng
  • Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số
Vần
Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương

1
B
T
B
B
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

2
T
B
T
B
Này của Xuân Hương mới quệt rồi

3
T
B
T
T
phải duyên nhau thì thắm lại

4
B
T
B
B
Đừng xanh như , bạc như vôi

Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7

  • Thất ngôn bát cú

Câu số
Vần
Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương

1
B
T
B
B
Quanh năm buôn bánmom sông

2
T
B
T
B
Nuôi đủ năm con với một chồng

3
T
B
T
T
Lặn lội thân khi quãng vắng

4
B
T
B
B
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

5
B
T
B
T
Một duyên hai nợ âu đành phận

6
T
B
T
B
Năm nắng mười mưa dám quản công.

7
T
B
T
T
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

8
B
T
B
B
chồng hờ hững cũng như không!

Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7

2. Luật vần trắc
  • Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số
Vần
Ví dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊)
của Trương Kế (张继 Zhang Jì)
Phiên âm Hán-Việt

1
T
B
T
B
月落烏啼霜滿天
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

2
B
T
B
B
江楓魚火對愁眠
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

3
B
T
B
T
姑蘇城外寒山寺
thành ngoại Hàn San tự

4
T
B
T
B
夜半鐘聲到客船
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7

Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
  • Thất ngôn bát cú

Câu số
Vần
Ví dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương

1
T
B
T
B
Ta nhớ người xa cách núi sông

2
B
T
B
B
Người xa, xa lắm nhớ ta không

3
B
T
B
T
Sao đương vui vẻ ra buồn bã!

4
T
B
T
B
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng

5
T
B
T
T
Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng

6
B
T
B
B
Khi riêng, riêng cả đến tình chung

7
B
T
B
T
Tương lọ phảitrai gái,

8
T
B
T
B
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

Chữ thứ
1
2
3
4
5
6
7

Đối ý[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường luật là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải “đối” nhau và hai câu 5, 6 cũng “đối” nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ: danh từ đối danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh: trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh… Nếu một bài thơ Đường luật mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì bị gọi “thất đối”.

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà,2

“Lom khom” đối với “lác đác” (hình thể và số lượng – thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), “dưới núi” đối với “bên sông” (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên “lom khom dưới núi” và “lác đác bên sông” thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm “lom khom” chỉ dáng người của câu trên, và “lác đác” chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp: “tiều vài chú” đối với “chợ mấy nhà” (đối lập về số lượng và tĩnh/động). Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh. Xin xem thêm về thơ đối hoặc Câu đối Việt Nam để hiểu thêm về luật đối trong thơ.

Nhị tứ lục phân minh (Câu 2,4,6 phải đối ý)

Niêm[sửa | sửa mã nguồn]

Các câu trong một bài thơ Đường luật giống nhau về luật thì được gọi là “những câu niêm với nhau” (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì trong cả hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ suất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là “thất niêm”.

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường luật chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

  • câu 1 niêm với câu 8
  • câu 2 niêm với câu 3
  • câu 4 niêm với câu 5
  • câu 6 niêm với câu 7

Chẳng hạn với luật vần bằng:

  1. B – T – B B
  2. T – B – T B
  3. T – B – T T
  4. B – T – B B
  5. B – T – B T
  6. T – B – T B
  7. T – B – T T
  8. B – T – B B

Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Vần[sửa | sửa mã nguồn]

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường luật chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là “vần với nhau”. Nếu một bài thơ Đường luật mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi “thất vần”.

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là “vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông”. Hầu hết thơ Đường luật dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

hai chữ “tà” và “hoa” được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là “vần thông” vì chỉ phát âm gần giống nhau.

Bố cục[sửa | sửa mã nguồn]

Bố cục một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo truyền thống thường được chia gồm 4 phần: Đề, Thực (hoặc Trạng), Luận, Kết. “Đề” gồm 2 câu đầu trong đó câu đầu tiên gọi là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau. “Thực” gồm 2 câu tiếp theo, giải thích rõ ý đầu bài. “Luận” gồm 2 câu tiếp theo nữa, bình luận 2 câu thực. “Kết” là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài, trong đó câu số 7 là câu “thúc” (hay “chuyển”) và câu cuối là “hợp”. Có người cho rằng Hai câu đề giới thiệu về thời gian, không gian, sự vật, sự việc. Hai câu thực trình bày, mô tả sự vật, sự việc. Hai câu luận diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về sự vật, hiện tượng. Hai câu kết khải quát toàn bộ nội dung bài theo hướng mở rộng và nâng cao

Thơ thất ngôn bát cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng chính điều đó lại được người xưa ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, xướng họa… Và trong tất cả các kỳ thi xưa đều bắt thí sinh phải làm.

Tại quê hương của Đường thi cũng là nơi mà phong trào tập cổ, sáng tác thơ Đường luật rầm rộ nhất, lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng khái niệm đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên, nói ngắn gọn bằng tổ hợp bốn từ Khởi (khai), Thừa, Chuyển, Hợp. Tuy nhiên cách phân chia này cũng không khác gì cách phân Đề, Thực, Luận, Kết về mặt ý nghĩa.

Một quan niệm khác áp dụng cấu trúc 2-4-2 cho bài thơ thất ngôn bát cú. Theo đó quan niệm này đứng ở góc độ không gian-thời gian nghệ thuật để khảo sát toàn bài dựa theo logic hai câu đầu và hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tố thời gian chiếm vị trí chủ đạo, còn bốn câu giữa trật tự không gian là chủ đạo và tác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật.

Cũng cần nhắc đến quan điểm “Cảnh-Tình” của Kim Thánh Thán khi chia bài thất ngôn bát cú thành hai phần đều nhau, theo đó bốn câu trên của bài nặng về cảnh và bốn câu dưới nặng về tình.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không cố tìm quy luật chung về bố cục để áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà áp dụng quan điểm nghiên cứu đã có từ thời Minh mạt Thanh sơ ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi nhân biểu hiện trong bài. Một ví dụ là bài thơ hết sức nổi tiếng Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan hoàn toàn có thể được phân tách theo bố cục 1/6, hoặc bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến có thể bố cục 6/1 hoặc 1/5/1.

Một số dạng thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thất ngôn bát cú[sửa | sửa mã nguồn]
Nguồn gốc thể thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ thất ngôn bát cú thật ra là loại cổ thi xuất hiện rất sớm bên Trung Quốc, đến đời Đường mới được các nhà thơ đặt lại các quy tắc cho cụ thể, rõ ràng và từ đó phát triển mạnh mẽ. Đây là loại thơ mà mỗi bài thơ thường có tám câu, mỗi câu 7 chữ, tuân theo các quy tắc hết sức chặt chẽ:

Các quy tắc[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Dàn ý: Thông thường chia làm 4 phần: #Đề (câu 1 – 2): Câu thứ nhất là câu phá đề (mở ý cho đầu bài). Câu thứ hai là câu thừa đề (tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài); Thực (câu 3 – 4): Còn gọi là cặp trạng, nhiệm vụ giải thích rõ ý chính của đầu bài;;Luận (câu 5 – 6): Phát triển rộng ý đề bài; Kết (hai câu cuối): Kết thúc ý toàn bài.
  2. Vần: Thường được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8.
  3. Ngắt nhịp: thường ngắt nhịp 2/2/3; 4/3.
  4. Đối: Có 2 cặp đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6, đối ở 3 mặt: đối thanh, đối từ loại và đối nghĩa. Nghĩa có thể đối một trong hai ý: đối tương hỗ hay đối tương phản.
  5. Niêm: Câu 1 niêm với câu 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7, tạo âm điệu và sự gắn kết giữa các câu thơ với nhau.
  6. Luật bằng trắc: thường căn cứ vào tiếng thứ hai trong câu một. Nếu tiếng thứ hai là thanh bằng ta nói bài thơ ấy viết theo luật bằng; nếu tiếng thứ hai là thanh trắc ta nói bài thơ viết theo luật trắc. Luật bằng trắc trong từng câu quy định: Nhất, tam, ngũ bất luận. Nhị, tứ, lục phân minh.

Chẳng hạn bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu viết theo luật bằng

Câu 1: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,

__________B ____T______ B___B

Câu 2: Chạy mỏi chân thì hãy ở tù,

___________T ______B ____T_B

Câu 3: Đã khách không nhà trong bốn biển,

__________T_________B_______T__T

Câu 4: Lại người có tội giữa năm châu.

___________B ____T _____B___B

Bài thơ viết Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan theo luật trắc:

Câu 1: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

___________T______ B _______T__B

Câu 2: Cỏ cây chen lá, đá chen hoa

_________B ______T ____B___B

Câu 3: Lom khom dưới núi, tiều vài chú

___________B _______T _____B__T

Câu 4: Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

___________T _____B ______T___B

Các biệt thể của thể thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thể thơ Đường luật như:

  • Tiệt hạ: ý, lời mỗi câu thơ đều lơ lửng tuỳ người đọc suy nghĩ.
Ví dụ: Giải cờ thế

Gặp thế cờ hay muốn phá thì…

Điều quân khiển tướng chẳng qua vì…

Trùng trùng trận cuộc song nhìn lại…

Điệp điệp quan binh nhưng nghĩ đi…

Ý chậm chí bền nên có lúc…

Trí nhanh nước sáng vẫn đôi khi…

Thú vui nhàn nhã dường như lắm…

Mất ngủ mà sao thật lạ kỳ…

(Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
  • Yết hậu: thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ.
  • Thủ vĩ ngâm: câu tám lập lại y hệt câu một.
  • Vĩ tam thanh: cuối mỗi câu có từ láy ba
Ví dụ: Luyện cờ

Suốt ngày ôm sách cửa cừa cưa

Thua mấy thì thua chứa chửa chừa

Kỹ quá nên đành sương sướng sượng

Sơ nhiều chả trách đửa đừa đưa

Thế hòa sao cứ đàu đau đáu

Nước thắng can chi bứa bửa bừa

Cứ gắng, việc đời nan nán nản’

Biết bao gương sáng xửa xừa xưa

(Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật phải tuân thủ theo những nguyên tắc chặt chẽ khó có thể làm được những bài thơ hay. Tuy nhiên nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… đã sử dụng thể thơ Đường luật đã để lại nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện.

Thất ngôn tứ tuyệt[sửa | sửa mã nguồn]

Thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối. Luật bằng trắc và niêm, vần… vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6. Lúc này nó sẽ thành một bài thơ “bốn câu ba vần” mà Nguyễn Du đã nhắc trong truyện Kiều.

Ví dụ: bài thơ sau của Quách Tấn

Từ buổi thuyền đưa khách thuận dằm

Trông chừng bến cũ biệt mù tăm

Cảm thương chiếc lá bay theo gió

Riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm
Từ trong cuộc sống vốn náo nhiệt

Trông ra thiên hạ chẳng ai hơn

Cảm mến một tình thân vĩnh cửu

Riêng một nỗi lòng gió đưa trăng
Trăng rằm nghe tiếng bạn ta nói

Trong lúc sương tàn dế im hơi

Tỉnh ra thì cũng trời đã rạng

Mong nhớ một ngày biệt mù tăm
Ngũ ngôn tứ tuyệt[sửa | sửa mã nguồn]

Thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần.

Ví dụ: từ bài trên mà thành

Thuyền đưa khách thuận dằm

Bến cũ biệt mù tăm

Chiếc lá bay theo gió

Tình xưa ghé đến thăm

*

Trăng rằm nghe tiếng bạn ta nói

Trong lúc sương tàn dế im hơi

Tỉnh ra thì cũng trời đã rạng

Mong nhớ một ngày biệt mù tăm
Ngũ ngôn bát cú[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng là từ bài thất ngôn bát cú bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành, luật bằng trắc, niêm và vần ở các chữ còn lại vẫn giữ nguyên.

Yết hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Yết Hậu3 (yết: nghỉ; hậu: sau) là lối thơ có ba câu trên đủ chữ, còn câu cuối cùng chỉ có một chữ.

Ví dụ: bài Lươn

Cứ nghĩ rằng mình ngắn,

Ai ngờ cũng dài đường.

Thế mà còn chê trạch:

Lươn!

Vô Danh

Ví dụ: Cha con đánh cờ

Ánh nắng vừa nghiêng ngọn trúc già

Cha con vui vẻ bày cờ ra

Đồng xanh gió mát trà thơm ngát

– Ha!

Không – Một! Xưa nay ai chả lầm

– Ván này…Thôi! Hết! Chốt xuyên tâm

Lâng lâng quý tử ngâm thơ luật

R…ầ…m!

Trước ngõ chỏng chơ tướng sĩ bồ

Ngoài sân cao thủ khóc nhi nhô

– Nín ngay! sắp lại cho tao gỡ!

– Dzô!

Nắng đã khuất dần phía núi xa

Cơm canh lên khói đợi trong nhà

Dưới thềm xe ngựa còn rầm rộ

– Chà!

Trường Văn Nguyễn Phước Thắng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải 1:  Trích trong tuyển tập thơ Tình bạn, tình yêu thơ – Nhà xuất bản giáo dục 1987

Chú giải 2:  Có tài liệu chép Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

Chú giải 3:  Trích từ trang

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đăng tải tại Thơ | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Luật thơ Lục Bát

Để giúp một số bạn đọc trẻ tuổi là học sinh, sinh viên… cùng những người mới tập làm thơ lục bát có thêm sự rành rẽ về luật thơ lục bát, người biên soạn xin được giới thiệu bài nói về luật thơ… dùng cho người mới tập làm thơ, chứ tuyệt nhiên không dám múa rìu qua mắt các thợ thơ. Những chi tiết trong bài viết này là tổng hợp, chọn lọc, biên soạn từ nhiều tài liệu tham khảo khác nhau, cũng có thể dùng nguyên câu chữ của một tác giả khác… Các ví dụ cốt minh họa cho sát vấn đề nêu ra chứ không đề cập tới yếu tố hay hoặc dở. Rất mong được quý bạn đọc góp ý, bổ khuyết.

1 – Vần tiếng Việt:

Vần là yêu cầu tối quan trọng đối với thơ lục bát nên cần nắm sơ qua về “vần” tiếng Việt.

+ Tiếng việt có các vần sau:

A

ac

ach

ai

am

an

ang

anh

ao

ap

at

au

ay

ăc

ăm

ăn

ăng

ăp

ăt

âc

âm

ân

âng

âp

ât

âu

ây

e

ec

em

en

eng

eo

ep

et

ê

êc

êch

êm

ên

êng

ênh

êp

êt

êu

i

ia

ich

iêc

iêm

iên

iêng

iêp

iêt

iêu

im

in

inh

ip

it

iu

o

oa

oac

oach

oai

oam

oan

ang

oanh

oao

oap

oat

oay

oăc

oăm

oăn

oăng

oăp

oăt

oc

oe

oec

oem

oen

oeng

oeo

oep

oet

oi

om

on

ong

ooc

oong

op

ot

ô

ôc

ôi

ôm

ôn

ông

ôông

ôp

ôt

ơ

ơc

ơi

ơm

ơn

ơng

ơp

ơt

u

ua

uân

uâng

uât

uây

uc

uêch

uênh

ui

um

un

ung

uôc

uôi

uôm

uôn

uông

uôt

up

ut

uy

uya

uych

uyêc

uyên

uyêt

uym

uyn

uynh

uyp

uyt

uyu

ư

ưa

ức

ưi

ưm

ưn

ưng

ước

ươi

ươm

ươn

ương

ươp

ươt

ươu

ưt

ưu

y

ych

yêm

yên

yênh

yêt

yêu

ym

yn

ynh

yp

+ Vần tiếng Việt bắt đầu bằng các nguyên âm, là nguyên âm hoặc nguyên âm ghép với các phụ âm đơn hoặc phụ âm kép.

Ví dụ: Từ TA có vần là A là nguyên âm A.

Từ THAN có vần là AN là nguyên âm A ghép với phụ âm đơn N.

Từ THANH có vần là ANH là nguyên âm A ghép với phụ âm kép NH.

+ Vần tiếng Việt nếu có hai nguyên âm đứng đầu thì tính cả hai nguyên âm đó. Ví dụ: Từ TOANH có vần là OANH.

Tuy nhiên cũng có trường hợp lại chỉ tính từ nguyên âm thứ hai. Việc xác định vần trong trường hợp này nên tra cứu bảng thống kê vần trên đây để tham khảo. Ví dụ:

– Từ “quện” có vần là “ên” chứ không phải “uên” vì trong bảng tra vần không có vần “uên”.

– Từ “giang” có vần là “ang” chứ không phải “iang” vì trong bảng tra vần không có vần “iang”.

2 – Các loại vần trong thơ lục bát:

– Một cặp thơ lục bát gồm hai câu: câu đầu 6 từ, câu hai 8 từ.

– Thơ lục bát có các loại vần sau:

Mỗi vần có hai dạng là VẦN BẰNG và VẦN TRẮC tùy thuộc vào các thanh (còn gọi là dấu) kèm theo nó. Ví dụ: vần “an” có “an”, “àn” là vần bằng, “án”, “ản”, “ãn”,“ạn” là vần trắc.

+ Vần bằng: là vần không có thanh và vần có thanh huyền (tức dấu huyền). Ví dụ:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

thì từ “ta”, “nhau” có vần không thanh (không dấu). Còn từ “là” có vần có thanh huyền (dấu huyền).

+ Vần bằng trong thơ lục bát: Từ thứ 6 câu lục và từ thứ 8 câu bát thường là vần bằng. Vần được nối tiếp từ vần chân câu lục sang vần lưng (tức vần yêu) của câu bát. Vần chân câu bát lại nối tiếp hiệp vần với vần chân câu lục tiếp sau…

+ Vần trắc: là các vần có một trong các thanh: sắc, hỏi, ngã, nặng. Ví dụ:

Tò vò mà nuôi con nhện

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Các từ “nhện” và “quện” mang vần trắc. Trường hợp này rất ít khi dùng. Nếu sử dụng thì bao giờ từ thứ 6 của câu lục và câu bát cũng đều phải dùng thanh trắc.

+ Vần chân: là vần ở cuối câu lục và cuối câu bát. Ví dụ:

Một đời đuổi bóng bắt hình

Tóc sương mới ngộ ra mình ngu ngơ.

Thì vần “inh” trong từ “hình” ở câu lục, vần “ơ” trong từ “ngơ” ở câu bát là các vần chân.

+ Vần chính và vần phụ: Vần gieo ở câu trước là vần chính, vần gieo ở câu sau là vần phụ. Nếu vần câu sau cùng vần với vần câu trước thì cũng là vần chính.

+ Vần yêu: Là vần ở giữa câu bát, thường là vần ở từ thứ 6, nếu vần rơi vào từ thứ 4 thì từ thứ 6 phải chuyển ngược thanh với từ thứ 4. Ví dụ:

Yêu em anh nắm cổ tay

Anh hỏi câu nàylấy anh không.

+ Điệp vận: Vần tiếp sau giống hệt vần trước.

+ Phong yêu (lưng ong): Trong một câu mà vần lưng và vần chân đều cùng một vần thì gọi là phong yêu. Cần tránh phong yêu vì đọc lên nghe không hay. Ví dụ:

Cả đêm thao thức bồn chồn

Râm ran tiếng mõ dập dồn đầu thôn.

+ Lạc vận: Là vần chân câu lục sang vần lưng câu bát, vần chân câu bát sang vần chân câu lục tiếp theo lại không cùng vần, đọc nghe mất âm điệu. Ví dụ:

Mang danh kẻ sĩ Bắc

Lại chui vỏ ốc, lại chuồn đi đâu.

+ Vần thông và lân vận (vần ép): Các vần nối tiếp nhau phải cùng vần (vần chính), nếu vần tiếp theo khác hẳn vần chính thì lạc vận, nếu gần giống vần chính thì gọi là lân vận, nếu vần đọc lên nghe na ná vần chính thì gọi là vần thông (vần phụ). Ví dụ:

Lù lù ngồi giữa công đường

Ra oai có vẻ ông hoàng ta đây.



3 – Luật bằng trắc trong thơ lục bát:

A – Mô hình:

Các từ số: 1 2 3 4 5 6 7 8

Câu lục 1: + B + T + B

Câu lục 2: + T T + + B

Câu bát 1: + B + T + B + B

Câu bát 2: + T + B + T + B

(Ký hiệu: B là thanh bằng, T là thanh trắc, + là tự do.)

B – Luật bằng trắc trong thơ lục bát:

– Các từ 2, 4, 6, 8 phải luôn đúng luật bằng trắc (xem mô hình trên).

– Các từ 2, 4 câu lục phải niêm với các từ 2, 4 câu bát.

– Từ thứ 2 câu lục và câu bát phải là thanh bằng. Trường hợp bố trí từ thứ 2 câu lục là thanh trắc thì phải đưa vềdạng tiểu đối. Tức là chia câu lục làm 2 về, mỗi vế 3 từ, đối nhau. Từ thứ 2, 3 phải là thanh trắc, từ thứ 6 phải là thanh bằng (như mô hình câu lục 2). Ví dụ:

Đi vạn dặm, viết nghìn trang

Khơi trong gạn đục vẻ vang một đời.

Chú ý: Từ số 5 câu lục nên dùng thanh bằng để đảm bảo đối cho cân, trường hợp hãn hữu mới dùng thanh trắc. Ví dụ:“Khi tựa gối, khi cúi đầu”… Nếu làm thơ nghệthuật quyết không dùng trường hợp hãn hữu này.

– Từ thứ 4 câu lục và câu bát phải là thanh trắc. Để câu thơ cân đối thì từ thứ 4 phải là thanh trắc (để gánh hai thanh bằng ở từ thứ 2 và 6). Nếu ở câu bát đã gieo vần lưng vào từ thứ 4 là thanh bằng thì từ thứ 6 phải dùng thanh trắc.

– Muốn câu thơ có nhạc thì ở câu bát phải bố trí từ thứ 6 thanh không (không dấu) và từ thứ 8 thanh huyền hoặc ngược lại. Nếu bố trí cả hai từ này cùng một thanh huyền (hoặc cùng thanh không) thì câu thơ đọc lên mất tính nhạc. Ví dụ:

Hỏi thăm cô ấy có chồng chưa nào?

4 – Họa thơ lục bát:

– Khi họa thơ lục bát cần tuân thủ nghiêm yêu cầu: Từ thứ 5, 7 ở câu bát và từ thứ 5 câu lục không được trùng với bài xướng.

– Khi họa nguyên vận thơ lục bát phải dùng đúng vần (cả vần chân và vần lưng) với bài xướng. Nhưng cũng có thể chỉ họa đúng vần chân cho dễ hơn…

5 – Tập Kiều và lẩy Kiều:

– Tập Kiều là lấy nguyên văn câu lục và câu bát ghép lại với nhau thành một bài thơ lục bát hoàn chỉnh. Chú ý: không được thay đổi một từ nào, cũng không được lấy cả cặp câu lục bát liền nhau.

– Lẩy Kiều là mượn từng câu trong Truyện Kiều, có sửa đổi đôi chút, rồi ghép lại thành một bài thơ có nội dung định thể hiện, không bắt buộc phải giữ nguyên vần.

6 – Tiểu đối:

Thơ lục bát không bắt buộc phải dùng tiểu đối. Nhưng nếu sử dụng thì ở câu lục chia hai phần phải đối nhau toàn diện (thanh, ý, từ). Còn câu bát cũng chia hai phần chỉcần đối ý, riêng từ thứ 4 và từ thứ 8 phải đối cân cả thanh và ý.

Trần Mỹ Giống (biên soạn)

Điện thoại: 0919811050

Đăng tải tại Thơ | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Hành trình của sứ bộ Nguyễn Du

Nguyễn Du đi qua cửa Nam Quan vào ngày mồng 6 tháng 4 năm Quí Dậu (1813), đến Yên Kinh ngày 4 tháng 10 năm Quí Dậu (1813) và về trở lại Nam Quan ngày 29 tháng 3 năm Giáp Tuất (1814). Từ cửa khẩu Nam Quan đến Yên Kinh sứ bộ đã đi bằng đường thủy và bộ với tổng cộng thời gian gần sáu tháng, đến khi hoàn thành sứ mệnh trở về lại ải Nam Quan thì hết hơn một năm.

Hành trình của sứ bộ Nguyễn Du được tóm lược qua bảng sau đây:

Âm lịch

Dương Lịch

Sự Kiện

06-04 Quí Dậu

6/5/1813

đi qua cửa Nam Quan

08-04 Quí Dậu

8/5/1813

đến Ninh Minh Châu

02-05 Quí Dậu

31/5/1813

đến thành phủ Ngô Châu

05-06 Quí Dậu

2/5/1813

đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây

18-07 Quí Dậu

3/8/1813

Đến Trường Sa, tỉnh Hồ Nam

27-07 Quí Dậu

22/8/1813

Đến Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc

30-07 Quí Dậu

25/8/1813

đến Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc

09-08 Quí Dậu

3/8/1813

từ Hán Khẩu ra đi

22-08 Quí Dậu

14/9/1813

ra khỏi địa phận huyện An Dương, tỉnh Hà Nam

04-10 Quí Dậu

27/10/1813

đến Yên Kinh

24-10 Quí Dậu

16/11/1813

từ Yên Kinh khởi hành về nước

02-11 Quí Dậu

24/11/1813

Cảnh Châu, tỉnh Trực Lệ
Đức Châu, tỉnh Sơn Đông
An Huy, tỉnh Hoài Nam

11-12 Quí Dậu

21/1/1814

Đến Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc

25-12 Quí Dậu

18/01/1814

Gia Ngư, tỉnh Hồ Bắc
Lâm Tương, tỉnh Hồ Nam

30-01 Giáp Tuất

19/02/1814

đến huyện Kỳ Dương, tỉnh Hồ Nam

12-02 Giáp Tuất

2/4/1814

Đến Toàn Châu, tỉnh Quảng Châu

04-02 Nhuần G. Tuất

23/02/1814

đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây

29-03 Giáp Tuất

18/5/1814

Về đến Nam Quan

Toàn bộ lộ trình của sứ bộ Việt Nam như sau:

Đường đi: Thăng Long, Nam Quan, Quảng Tây: Quế Lâm, Toàn Châu, Hồ Nam: Lôi Châu, Hành Dương, Giang Nam, Trường Sa, Tương Âm, Nhạc Dương, Hán Dương, Hà Bắc:Võ Xương, Hứa Đô, Nghiệp, Hàm Đan, Tấn Dương,
Yên Kinh,
Đường về: Sơn Đông: Khúc Phụ, Tứ Thủy, Từ Châu, Hoài Nam: An Huy, Võ Xương, Lâm An (Hàng Châu), Quế Lâm, Quảng Tây, Nam Quan.

Đăng tải tại Cuộc Đời, Nguyên Du - thi thánh Việt Nam, Thơ | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Niên biểu Nguyễn Du

Các sự kiện quan trọng

Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 (nhằm ngày 23 tháng 11 năm Ất dậu Âm lịch) tại phường Bích Câu, Thăng Long – nay là Hà Nội, dưới triều Lê Cảnh Hưng; quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.

Năm 1767, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng nhất phẩm, tước Xuân Quận Công.

Năm 1771, Nguyễn Nghiễm trí sĩ, được thăng Đại tư đồ, sau được mời giữ chức quan Tham tụng, rồi đổi làm Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Du cùng gia đình Tể tướng Nguyễn Nghiễm chuyển về ở làng Tiên Điền.
Anh em nhà Tây Sơn khởi binh tại ấp Tây Sơn – nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Năm 1774, Nguyễn Nghiễm sung chức Tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đoàn Nguyễn Thục giữ chức Đốc trấn Nghệ An.

Năm 1775, anh trai cùng mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Thục (1757-1775) qua đời. Đoàn Nguyễn Thục qua đời.

Năm 1776, Nguyễn Nghiễm qua đời tại quê nhà. Được truy tặng tước Huân Dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc thần. Tây sơn hạ thành Gia định.

Năm 1778, bà Trần Thị Tần mẹ Ngyễn Du qua đời. Lúc đó Nguyễn Du được 13 tuổi. Anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều – sinh năm 1745 – được thăng Trấn Thủ Hưng Hoá. Nguyễn Du ra Thăng Long ở với anh cả là Nguyễn Khản. Nguyễn Nhạc lên ngôi vua tại Qui Nhơn.

Năm 1780, anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản (1734-1786) đang làm trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong vụ án Canh Tý, bị bãi chức, giam ờ nhà Châu Quận Công. Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền ở với người chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành. Sau đó lại được Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?) đón về quê ở Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập.

Năm 1782, Trịnh Sâm mất, kiêu binh phế Trịnh Cán lập Trịnh Tông lên ngôi Chúa. Nguyễn Khản được vời làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận Công. Nguyễn Điều làm trấn thủ Sơn Tây. Cũng trong năm này do nạn kiêu binh dinh thự Nguyễn Khản tại phường Bích Câu bị đốt cháy hoàn toàn.

Năm 1783, Nguyễn Du, 18 tuổi, thi hương tại trường thi Nghệ An và đậu Tam trường. Tuy nhiên ông không tiếp tục thi lên nữa, mà đi nhận một chức quan võ ở Thái Nguyễn, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần. Anh cùng mẹ là Nguyễn Đề (1761-1805) đỗ đầu kỳ thi hương ở điện Phụng Thiên – cử nhân. Nguyễn Khản thăng chức Thiếu bảo, và cuối năm thăng Tham tụng.

Năm 1784, kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh Nguyễn Khản ở phường Bich Câu bị phá, phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều (1745-?) đang làm trấn thủ Sơn Tây. Nguyễn Huệ đánh tan 2 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút.

Năm 1785, Nguyễn Huệ chiếm thành Phú Xuân thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Bắc Hà, Lê-Trịnh.

Năm 1786, Nguyễn Khản xin cho Nguyễn Du làm chức Chánh Phủ Hiệu Úy tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Du sau đó cưới bà Đoàn Thị Huệ con gái Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thân (1752) đang giữ chức Ngự Sử tại triều. Người xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình).

Cũng trong năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc đánh Trịnh vói chiêu bài “diệt Trịnh, phò Lê”. Trịnh Tông bị bắt và tự tử, kết thúc 216 năm vua Lê chúa Trịnh (1570-1786). Nguyễn Khản bị bệnh mất ở Thăng Long. Vua Lê Hiển Tông mất. Lê Chiêu Thống nối ngôi.

Năm 1787, Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ ra bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh.

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra bắc diệt Vũ văn Nhậm. Nhà Lê mất nghiệp, Lê Chiêu Thống lưu vong sang Tầu cầu viện nhà Thanh. Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân – nay là Huế, đổi niên hiệu là Quang Trung. Nguyễn Ánh tái chiếm thành Gia Định

Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân nhà Thanh, Vua Lê Chiêu Thống trốn sang Tầu cầu cứu. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức thị lang bộ Lại. Nguyễn Du về ẩn cư tại quê vợ tại Quỳnh côi, trấn Sơn Nam – nay thuộc tỉnh Thái Bình – cho đến 1795.

Năm 1791, Nguyễn Quýnh, con thứ tư của Nguyễn Nghiễm, nổi lên chống Tây Sơn bị bắt và bị giết. Quân Tây Sơn phá sạch dinh cơ họ Nguyễn.

Năm 1792, vua Quang Trung băng hà.

Năm 1793, Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền, cuối năm vào kinh đô thăm anh là Nguyễn Đề đang làm Thái sử ở Viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.

Năm 1794, Nguyễn Đề được phong Tả phụng nghi bộ Binh và vào giữ chức Hiệp tán nhung vụ

Năm 1795, vợ Nguyễn Du qua đời tại Quỳnh Côi. Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh; xướng hoạ thơ cùng các sứ thần Triều Tiên.

Năm 1796, Nguyễn Du bị chính quyền Tây Sơn bắt giam vì bị tình nghi cộng tác với chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nhờ Thận quân công là bạn của Nguyễn Đề, anh của Nguyễn Du, lại ngưỡng mộ văn tài của Nguyễn Du, nên chỉ giam ba tháng rồi tha. Nguyễn Đề đi sứ nhà Thanh trở về được thăng chức Tả đồng nghị Trung thư sảnh.

Từ 1797 đến năm 1804: Nguyễn Du ẩn dật tại Tiên Điền.

Năm 1801, Nguyễn Ánh hạ Thành Huế, qua năm sau 1802 hạ thành Thăng Long thống nhất sơn hà, lên ngôi Hoàng đế niên hiệu Gia long, xuống chiếu mời các cựu thần Nhà Lê trở lại làm quan, đổi tên nước thành Việt Nam.

Năm 1802, Nguyễn Du ra làm Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, Trấn Sơn Nam – nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Mấy tháng sau, thăng Tri phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng – nay thuộc tỉnh Hà Tây.

Năm 1804, nhà Thanh công nhận nước Việt Nam. Nguyễn Du được cử đón sứ thần sang tấn phong vua Gia Long.

Năm 1805, Nguyễn Du bắt đầu vào Huế làm quan với nhà Nguyễn và được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu.

Năm 1807, Nguyễn Du được cử làm giám khảo kỳ thi Hương tại Hải Dương.

Năm 1808, Nguyễn Du xin về quê nghỉ.

Năm 1809, Nguyễn Du được bổ làm Cai bạ – hàm Tứ phẩm – tại Quảng Bình.

Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc.

Năm 1814, Đi sứ về được thăng Hữu tham tri bộ Lễ – hàm Tam phẩm.

Năm 1816, anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh (1759-1828) vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bì đày vào Quảng Nam.

Năm 1820: Vua Gia Long băng hà, Vua Minh Mạng lên ngôi, Nguyễn Du được cử sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh mất vào ngày 16 tháng 9 năm 1820 (10 tháng 8 Canh Thìn), hưởng thọ 55 tuổi. An táng tại làng An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1824, được con là Nguyễn Ngũ cải táng tại Tiên Điền.

Đại Nam Liệt Truyện viết: “Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói “được” rồi mất; không trối lại điều gì.”

Năm 1965, Hội đồng Văn Hóa Thế giới – nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông – vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân Văn hoá và Nhà thơ Nhân loại.

(Viết theo tài liệu của La Sơn Nguyễn Hữu Sơn)

Đăng tải tại Cuộc Đời, Nguyên Du - thi thánh Việt Nam, Thơ | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?